Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012

Quà Tặng Trái Tim: Chìa Khóa Sống Thanh Thản - Lại Thế Luyện, 144 Trang



qqCó thể nói rằng, trước khi chúng ta cảm nhận được sự thanh thản, bình yên trên quả đất này, mỗi chúng ta đã có thể cảm nhận sự bình yên, thanh thản từ bên trong tâm hồn mình. Hãy nhớ lại khi mình mới chào đời, chúng ta hạnh phúc, bình an thiêm thiếp ngủ trong vòng tay yêu thương của mẹ. Chúng ta có cả một khoảng thời gian rất dài của tuổi ấu thơ sống hồn nhiên, vô tư, chẳng hề biết lo âu, buồn bã.
Ngày nay, sự thanh thản trong cõi lòng, tưởng chừng như một điều mà bất kỳ ai trong chúng ta cũng rất dễ đạt được, nhưng kỳ thực, đó lại là một vấn đề khó khăn vô cùng, vì cuộc sống hằng ngày xung quanh chúng ta có biết bao nỗi buồn sầu, lo lắng đang bủa vây, những công việc chống chất. Với nếp sống hối hả hôm nay, chúng ta ít có thời gian để lắng đọng lại những suy tư có ý nghĩa cho cuộc sống của mình. Trong một khoảnh khắc bất chợt nào đó, và bạn ngỡ như mình đã để cho những nỗi thao thức, băn khoăn ấy trôi qua theo những năm tháng dài của cuộc đời mình. Rất nhiều khi chúng ta sống mà không rõ mình sống vì điều gì? Hạnh phúc của cuộc sống là gì? Và cuộc đời mình sẽ đi về đâu. Thế nhưng, dù muốn dù không, những câu hỏi này vẫn thường trực trong tiềm thức của bạn.
Cuộc sống mỗi ngày của chúng ta thật phong phú, nhưng cũng quá đỗi phức tạp! Phần lớn những sự hỗn loạn, khổ đau trong cuộc sống đều do con người gây ra cho nhau! cách tốt nhất để sống thanh thản, hạnh phúc, đó là chính chúng ta phải tự thay đổi mình trước! Sự thay đổi bắt đầu từ việc xem xét lại bản thân, sau đó là bằng việc thay đổi cách sống thay đổi những hành động cụ thể hằng ngày của mình.
Khi bản thân mỗi người biết tự thay đổi mình theo chiều hướng tích cực, chắc chắn cuộc sống sẽ ngày càng trở nên tốt đẹp hơn!
Mỗi suy nghĩ của chúng ta chỉ như một tia sáng nhỏ nhoi soi rọi vào cõi thăm thẳm của cuộc đời này mà thôi! Mọi thao thức, băn khoăn của bạn sẽ trở nên sáng tỏ dần theo thời gian! Sau một quá trình nỗ lực tự thân để tìm câu trả lời cho chính mình như vậy, bạn sẽ nhận ra sự hiểu biết của mình trở nên sâu sắc hơn và có ý nghĩa hơn rất nhiều so với việc bạn chấp nhận những câu trả lời có sẵn trong sách như lâu nay! Và đó cũng là lý do mà tập sách giản dị này vẫn luôn có giá trị đối với bạn!
Cuốn sách hay nhất mà bạn có thể đọc được chính là cuốn sách mà bạn tự đọc lấy bằng chính những trải nghiệm thực tế trong cuộc sống của mình.

Quà Tặng Trái Tim: Chìa Khóa Sống Giản Dị - Lại Thế Luyện,118 Trang



qqGiữa muôn vàn phức tạp của cuộc đời, chúng ta phải sống như thế nào? Chắc hẳn trong đời, bạn đã từng có lúc tự hỏi mình câu hỏi đó? Đây là một câu hỏi không ngừng day dứt những tâm hồn đang khao khát kiếm tìm một lẽ sống cao cả hơn cho riêng mình. Sống sao cho phải lẽ, không phải là một điều dễ dàng trả lời!
Ngày nào còn sống, chắc chắn chúng ta vẫn còn băn khoăn về cách sống, về ý nghĩa cuộc sống của mình. Phải chăng, càng đối diện với những phức tạp, phiền toái, đau khổ và bề trái cuộc sống, con người càng khát khao được sống một cuộc sống giản dị, thanh thản hơn, có ý nghĩa hơn?
Cuộc đời mỗi người, xét theo một ý nghĩa nào đó, là một hành trình không ngừng bỏ bớt đi những gánh nặng và xác định hành trang nào mình cần mang theo. Cuốn sách này mong muốn được chia sẻ cùng bạn đôi điều về đề tài sống giản dị, xét từ nhiều khía cạnh của đời sống. Ý tưởng chính mà chúng tôi mong muốn chuyển tải qua cuốn sách nhỏ này là, cuộc sống của mỗi chúng ta thật ngắn ngủi và hãy cố gắng sống sao cho thật tốt! Con người giản dị cũng chính là con người biết gạt bỏ đi những phiền toái trong đời, lo phát triển khả năng của mình đến mức cao nhất để phục vụ xã hội. Dù cuộc sống trên trần gian này là hữu hạn, nhưng chúng ta vẫn có thể tìm thấy một lẽ sống giản dị - một nghệ thuật sống đích thực, để làm cho cuộc sống của chúng ta mang những ý nghĩa bất tận!
Phải chăng cuộc sống hằng ngày trở nên quá phức tạp chỉ vì chúng ta chưa biết đơn giản hóa cuộc sống của mình? Mọi chuyện trong cuộc sống sẽ trở nên thuận lợi và tốt đẹp hơn một khi mỗi chúng ta chủ động lựa chọn và rèn luyện cho bản thân một nếp sống giản dị. Chỉ có những tâm hồn giản dị mới dễ dàng đón nhận được niềm vui cuộc sống!

Quà Tặng Trái Tim: Chìa Khóa Sống Lạc Quan - Lại Thế Luyện, 133 Trang



qqTrong cuộc sống, những sự việc xảy ra hàng ngày đều có thể ảnh hưởng đến thái độ sống của chúng ta. Những lúc cuộc sống gặp thuận lợi, may mắn hoặc ít nhất là những hoàn cảnh bình thường, ổn định, chúng ta có thể dễ dàng duy trì được thái độ sống lạc quan . Thế nhưng, khi cuộc sống chẳng may gặp phải những âu lo bất trắc, khi phải đối mặt với những thất bại triền miên, những mặt trái phũ phàng của cuộc đời hoặc khi bản thân tưởng như phải lâm vào hoàn cảnh khốn cùng bế tắc, mấy ai trong chúng ta còn duy trì được thái độ sống lạc quan?
Điều khó nhất trong cuộc sống, phải chăng, chính là làm sao duy trì được thái độ sống lạc quan?
Nhiều khi, những điều khiến cho ta cảm thấy hạnh phúc trong cuộc sống không hẳn là ở học vấn, tài năng, sắc đẹp, tiền bạc hay hoàn cảnh, cũng không hẳn là ở những thành công hay thất bại trong hiện tại, mà chính là ở thái độ sống lạc quan của mỗi người chúng ta.
Ngay lúc này đây, bạn đang lạc quan hay bi quan? Bạn có bao giờ ý thức được rằng, bi quan hay sầu muộn tức là tự mình đang lãng phí những ngày tháng quý giá của cuộc đời mình? Cho nên, trong hành trình đời người, việc xác định cho bản thân một thái độ sống lạc quan là điều hết sức quan trọng! Một khi biết lựa chọn và rèn luyện thái độ sống lạc quan, chắc chắn cuộc sống của mỗi chúng ta sẽ trở nên tốt đẹp hơn rất nhiều!
Hy vọng cuốn sách nhỏ này sẽ giúp được phần nào việc nâng đỡ tinh thần, giúp bạn vượt qua những nỗi buồn trong cuộc sống, để luôn có khả năng sống lạc quan, hạnh phúc, mỉm cười và nỗ lực vươn lên trong mọi hoàn cảnh - cho dù cuộc sống có thế nào đi chăng nữa!

Cổ Học Tinh Hoa Quyển Thượng - Nguyễn Văn Ngọc | Trần Lê Nhân, 210 Trang



qq"Có mới, nới cũ" thường tình vẫn thế. Tân học mỗi ngày một tiến, tất Cựu học phải lùi và có khi sợ rồi mai một đi mất. Nhưng, Tân học mà hay, tất là Tân học có một nền tảng vững chắc. Nền tảng ấy tức là tinh hoa của Cựu học. Cựu học nước nhà là một thứ học trải qua bao nhiêu đời, đã làm cho ông cha ta phù thực được cương thường, chấn chỉnh được phong hóa, bảo tồn được quốc thể, duy trì được thế đạo nhân tâm, thật không phải là một cái Học không có giá trị đáng khinh rẻ hay quên bỏ được. Vả chăng: "Tri kim, nhi bất tri cổ, vị chi manh cổ; tri cổ, nhi bất tri kim, vị tri lục trầm" ta đã biết truyện đời nay, ta lại cần phải học truyện đời xưa, ta ôn lại việc đời xưa mà ta rõ được việc đời nay, có như thế, thì cái Học của ta mới không đến nỗi khiếm khuyết. Vì, tuy chia làm cổ, kim, nhưng chẳng qua cũng chỉ là buổi sớm, buổi chiều trong một ngày của trời đất, kẻ học giả mà câu nệ chấp nhất, chỉ biết cổ không muốn biết kim, hay chỉ biết kim không muốn biết cổ, thì sao gọi là "bác cổ thông kim" được!
Cựu học của ta là gì? Cựu học của ta tức là Hán học nghĩa là một cái Học chung cho cả mấy dân tộc ở Á Đông đã chịu cái văn hóa của giống người Hán, tức là người Trung Hoa. Cựu học không phải là chỉ có Tứ Thư, Ngũ Kinh, xưa kia đa số quen dùng làm cái học cử nghiệp mà thôi. Ngoại giả, còn Bác gia chư tử thật là man mác rộng như bể, học thuyết đủ mọi mặt, lý tưởng rất xâu xa, muốn học cho tới nơi, phải mất bao nhiêu công phu, thời giờ mới được.
Nay, chúng tôi biên tập quyển sách nầy, không phải là muốn chuyên tâm nghiên cứu riêng một phái nào hay một nhà nào. Chúng tôi chỉ góp nhặt một đôi chút lý tưởng trong Cổ học gọi là để cho người đọc thiệp liệp qua được một ít tinh hoa của lối học cũ mà thôi. Nên chúng tôi mới lạm dụng bốn chữ "Cổ Học Tinh Hoa" làm nhan sách.
Chúng tôi có ý chọn những bài ngắn mà nghĩa lý hàm súc dồi dào. Những bài ấy tuy là truyện từ đời xưa bên Tàu, nhưng ứng dụng vào đời nào và ở đâu cũng được. Vì truyện tuy cổ, nhưng cái chân lý thì bao giờ cũng là một, mà bao giờ cũng như mới. Nào hiếu đệ, nào trung tín, nào lễ nghĩa, nào liêm sĩ, đến cả những việc kỳ quái, sinh tử; bài nầy chính giọng huấn giáo, bài kia rõ thể ngụ ngôn, truyện nầy nghiêm trang khắc khổ, truyện kia khôi hài lý thú; đức Khổng nói "Nhân" hồn nhiên như hóa công; ông Mạnh bàn "Nghĩa" chơm chởm như núi đá, Tuân Tử nói "Lễ" thật là đường bệ, Mặc Tử nói "Ái" thật là rộng rãi, hình danh như Hàn phi tử thật là nghiêm nghị khiến người mất bụng làm xằng, ngôn luận như Án Tử thật là thâm thiết khiến người dễ đường tỉnh ngộ, đến nói đạo đức như Lão Tử, bàn khoáng đạt như Trang Tử thật lại biến hóa như rồng, phấp phới như mây... các lý thuyết mỗi nhà một khác, có khi phản đối hẳn nhau, nhưng thực khiến cho người đọc vừa được vui, vừa phải đem tâm suy nghĩ.
Dịch những bài văn như thế, chúng tôi lấy làm rất khó. Chẳng những chữ Hán dịch ra chữ Nam, lắm câu không hết được nghĩa, nhiều bài, chính nguyên văn cũng mỗi nơi chép một khác không lấy gì làm xác định. Nên khi dịch, chúng tôi phải châm chước cân nhắc từng bài, bài thì địch thẳng nguyên văn, bài thì chỉ dịch lấy đại ý, hoặc có bài phải rút bớt, hay thêm ra, hay đúc lại, cốt cho nó xuông tiếng Nam mà không hại đến nghĩa bài thì thôi.
Dịch Hán văn ra quốc văn, tất phải dùng nhiều chữ Hán. Song chữ nào bất đắc dĩ phải dùng, thì ở dưới chúng tôi đã có "giải nghĩa" rõ ràng. Nghĩa ấy thường chỉ là nghĩa riêng trong bài, chớ không phải hết mọi nghĩa của từng chữ.
Những tên người, tên đất, muốn cho tinh tường, đáng lẽ phải có một cái biểu liệt đủ tên những tác giả cùng những người nói trong chuyện và một bức địa đồ Trung Hoa trải qua các thời đại. Nhưng việc ấy xin để nhường những nhà chuyên về Bắc sử sau nầy, đây chúng tôi chỉ chua qua để cho độc giả đủ biết cái đại cương mà thôi.
Đọc một bài văn hay, mà tư tưởng đã thấm thía vào tâm não, thì tất không sao để yên ngòi bút mà không phê bình được. Đó cũng là một cái thông bệnh của những người hâm mộ văn chương hay có cái thú ngâm nga và đưa ngòi bút khuyên liền, khuyên kín vậy. Chúng tôi cũng không tránh khỏi cái bệnh ấy. Nên dưới mỗi bài chúng tôi cũng góp "Lời Bàn", cốt là để giải rõ các đại ý trong bài hoặc lạm bình một, đôi câu ứng với cái thời buổi bây giờ.
Chúng tôi mạo muội biên dịch quyển sách nầy là quyển đầu, có ý bảo tồn tinh hoa của cổ học và mong các bạn thiếu niên ta nhớ đến nguồn gốc từ bao nghiêu nghìn năm về trước, rõ các điển tích thường dẫn trong văn chương nước nhà, thêm trước được ít tài liệu có khi làm văn phải dùng đến, rộng được ít tri thức tuy thuộc về Cổ học mà thật khác nào "như thóc gạo, như vải lụa", thường cần đến hàng ngày. Nếu quyển sách này, giúp được một phần trong muôn phần ấy, thì chúng tôi lấy làm hoan hỷ lắm vậy.

[Silde Bài giảng] Cấu trúc của thông điệp quảng cáo - Dương Thành Truyền

[Silde Bài giảng] Cấu trúc của thông điệp quảng cáo - Dương Thành Truyền

http://www.thuvienso.info

[Silde Bài giảng] Cấu trúc của thông điệp quảng cáo - Dương Thành Truyền

[Silde Bài giảng] Cấu trúc của thông điệp quảng cáo - Dương Thành Truyền

http://www.thuvienso.info

Cấu Trúc Của Các Cuộc Cách Mạng Khoa Học - Thomas S.kuhn, 422 Trang

http://www.thuvienso.info Quyển sách lớn của Thomas Kuhn, Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học (The Structrure of Scientific Revolutions, 1962), mặc dù mang rất nhiều yếu tố kỹ thuật gắn liền với các bộ môn thuộc ngành vật lý, vẫn rất có ích cho ngay cả những ai thuần tuý coi những cái tên như Bernoulli, Boyle hay Coulomb là những ám ảnh đáng sợ và xưa cũ của nhà trường phổ thông.
Trước hết và hơn hết là vì nó đề nghị điều vừa quyến rũ nhất vừa gây sợ hãi nhất trong khoa học và không chỉ khoa học: sự thay đổi. Sự thay đổi đó xuất phát từ chính bản thân Kuhn: theo như ông kể lại trong “Lời nói đầu”, tuy được đào tạo về vật lý (tại đại học Harvard), nhưng ông nhanh chóng chuyển sang nghiên cứu lịch sử khoa học và sự nghiệp xuất sắc đã khiến ông được xếp vào các triết gia về khoa học lớn nhất của thế kỷ 20, cùng Lakatos, Popper, Feyerabend (bạn của ông) hay Heilbron (học trò của ông). Mục đích ban đầu của Kuhn là “thúc đẩy một sự thay đổi trong cách nhìn nhận và đánh giá các dữ liệu quen thuộc” (tr.26), bởi ông sớm nhận ra những khiếm khuyết lớn ở các “bức tranh khoa học” theo lối biên niên như vẫn được thể hiện ở sách vở kinh điển và sách giáo khoa: chúng hoàn toàn không có ích lợi gì cho việc hiểu biết về hoạt động nghiên cứu đã đẻ ra chúng.
Phản đối khái niệm “phát triển bằng tích luỹ”, Kuhn tìm đến một lối hình dung khác về tiến trình phát triển của khoa học. Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học đưa ra một suy tư độc đáo về lịch sử khoa học và kể từ đó mô hình mà nó đề nghị đã trở thành kinh điển, với các khái niệm xương sống: “cách mạng khoa học”, “paradigm” (trong bản dịch là “mẫu hình”, còn có thể dịch là “hệ hình” hay “phạm thức”) và cặp từ đối nghĩa “normal science” (trong bản dịch là “khoa học chuẩn định”, còn có thể hiểu là khoa học ở trạng thái bình thường) và “extraordinary science” (trong bản dịch là “khoa học phi chuẩn định”, ở đây nên hiểu là “khoa học bất thường”). Lịch sử của khoa học (tự nhiên) đi qua các mẫu hình khác nhau, mỗi mẫu hình chi phối, quyết định, dự đoán và thậm chí tiên liệu sự diệt vong của chính mình. Cách hình dung này khá tương đồng với Michel Foucault khi bàn về sự phát triển của tri thức. Thay đổi mẫu hình là điều kiện tiên quyết cho khả năng về một cuộc cách mạng khoa học: “Cách mạng khoa học chính là quá trình chuyển sang một mẫu hình mới” (tr.189). Một điểm quan trọng nữa là Kuhn hoàn toàn không bỏ qua khía cạnh xã hội của phát triển khoa học.
Kuhn đặt mẫu hình, tức “thành tựu khoa học cụ thể” (tr.51), quan trọng hơn các khái niệm, định luật, lý thuyết và quan điểm đã dẫn tới thành tựu đó vì ông cho rằng đó là đơn vị cơ bản dùng để nghiên cứu sự phát triển của khoa học. Cách mạng, theo Kuhn, chính là “kiểu phát triển thông thường của một khoa học trưởng thành” (tr.53), nhưng lại không đặc trưng cho thời kỳ trước Newton; đây là một khái niệm khá muộn, nhưng có hiệu quả đặc biệt, vì nó bỏ bớt cho nhà khoa học gánh nặng luôn phải trình bày lại từ đầu những vấn đề cơ bản nhất trong lĩnh vực nghiên cứu của mình do không có sẵn một chuẩn mực chung được toàn bộ giới khoa học cùng thời đồng thuận. Cũng thông qua cách mạng mà chúng ta có thể nói đến sự tiến bộ.
Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học chắc chắn sẽ thu hút độc giả quan tâm đến các phát minh lớn trong khoa học và những cuộc đối đầu của trí tuệ đỉnh cao (với những cái tên như Aristotle, Newton, Lavoisier, Boyle hay Einstein), nhưng ở một khía cạnh khác nó còn có khả năng lớn lao trong việc khích lệ công việc nghiên cứu của các nhà khoa học trẻ, khi Kuhn bàn rất hay đến ý nghĩa của khoa học (ở các chương III và IV), dù cho ông khẳng định ở môi trường bình thường với sự thống trị của một mẫu hình thực thụ, công việc chủ yếu của nhà khoa học là “vun đắp” chứ không hẳn là tìm ra cái mới, thậm chí nhà khoa học còn dị ứng với những cái dị biệt và lý thuyết mới. Mặt khác, ông cũng khẳng định: “Có một điều nên lưu ý: hầu như bao giờ cũng vậy, những người có các phát minh cơ bản về một mẫu hình mới là những người hoặc rất trẻ hoặc là mới bước vào lĩnh vực mà họ làm thay đổi mẫu hình” (tr.188).
Đẩy xa hơn suy tư của mình, Kuhn đặt các cuộc cách mạng khoa học vào sự đối sánh với các cuộc cách mạng chính trị và tìm ra nhiều điểm tương đồng giữa chúng. Cả hai loại đều khởi đầu bằng một cảm giác bất ổn chung của cộng đồng, tiếp đến là giai đoạn khủng hoảng bắt buộc trước khi dẫn đến quá độ và thay thế về mẫu hình (ở điểm này Kuhn khác với Popper, người cho rằng sẽ có thay đổi mẫu hình khi một mẫu hình cũ bị vứt bỏ; Kuhn lại khẳng định phải đến khi một mẫu hình mới thay thế xong xuôi một mẫu hình cũ thì quá trình này mới thực sự được hoàn thành). Gần gũi với cách mạng chính trị (đó cũng chính là lý do khiến Kuhn chọn từ “cách mạng”), “việc lựa chọn giữa các mẫu hình cạnh tranh nhau cũng là một sự lựa chọn giữa những lối sống không tương thích nhau của cộng đồng” (tr.194).

Cầu Chúc Hai Người Hạnh Phúc - Nguyễn nhật Ánh, 10 Trang

Cầu Chúc Hai Người Hạnh Phúc - Nguyễn nhật Ánh, 10 Trang

Đám cưới của tôi dự kiến sẽ có hai trăm người dự. Khi nghe tôi nói như vậy, cô vợ sắp cưới của tôi giật nẩy mình:
- Ối chao! Lấy tiền đâu mà...
Tôi vội trấn an:
- Em đừng lo! Ba nói là ba sẽ đài thọ tất cả. Chính ba đề nghị tổ chức có "tầm cỡ" như vậy . Ba bảo dù sao anh cũng là con trai lớn trong nhà!
Nhưng khi hai đứa tôi chuẩn bị viết thiệp mời thì ba tôi xuất hiện:
- Sao, hai con viết thiệp chưa ?
- Dạ, tụi con chuẩn bị viết đây .
- Vậy thì tụi con viết giùm ba luôn thể. Danh sách của ba đây!
Ba tôi lấy trong sổ ra một tờ giấy và đưa cho tôi . Tôi nhẩm đếm số khách khứa của ba tôi mà người cứ run lên. Một trăm mười tám người, đa số là những tên tuổi mà tôi không hề biết.
- Ai nhiều vậy ba ? - Tôi băn khoăn.
Ba tôi phẩy tay:
- À, toàn là chỗ quen biết cả! Bạn cũ lâu ngày với nhau .
Tuy ba tôi không nói ra nhưng qua thái độ của ông, tôi mang máng hiểu ra hầu hết số khách này là chỗ làm ăn với ba tôi và đám cưới của tôi là dịp để ông vui vầy với họ, cũng không loại trừ có những nguyên nhân thầm kín khác nữa . Bây giờ tôi mới hiểu tại sao ba tôi lại muốn đám cưới của tôi "vui" đến như vậy .

Văn Học Việt Nam: Cánh Tay Đứa Trẻ - Lê Văn Trương, 10 Trang

Văn Học Việt Nam: Cánh Tay Đứa Trẻ - Lê Văn Trương, 10 Trang

Canh đã khuya, hạt mưa gieo tí tách, Hà Nội đang chìm đắm trong một cảnh buồn rầu thảm đạm. Phố xá đã vắng tanh. Lơ thơ một vài cái xe, áo tơi cánh gà bưng kín mít, ghếch càng lên bờ hè mà anh xe thì co ro ngồi ẩn mưa ở dưới hiên. Vài con mèo cắn nhau ở trước cửa một nhà kia gào lên những tiếng "mao... o" lanh lảnh ghê mình.
... Trong cái buồng giấy rất lịch sự trang hoàng theo lối mới, dưới cái ánh sáng le lói của ngọn đèn điện, Bùi Nguyên đang cắm cúi viết một bức thơ. Chắc bức thơ kia có lắm điều khó nói, nên thỉnh thoảng chàng lại cau đôi lông mày, cắn móng tay, nghĩ ngợi...
Sau nửa giờ đồng hồ nghí ngoáy, vất vả, bức thư đã viết xong, chàng ném bút xuống bàn, xoa tay có vẻ khoan khoái, nhẹ nhàng như đã cất được một gánh nặng. Chàng châm thuốc hút rồi cầm bức thơ đọc lại.
Hà Nội, ngày 14-6-1934
Thưa chú,
Khi chú nhận được bức thơ này, thì cháu đã ra người thiên cổ, chắc chú phải cho cháu là một kẻ hèn nhát không chịu nổi nỗi đau đớn ở trên đời mà phải quyên sinh. Cháu xin thú thực với chú rằng cháu không có cái can đảm chịu được những nỗi chênh lệch, éo le ở đời. Cháu không thể khoanh tay giương mắt ngồi nhìn cái cơ nghiệp của cha ông vì cháu buôn thua bán lỗ, vì cháu bất tài mà phải sa vào tay kẻ khác, cháu không thể đang tâm mục kích cái cảnh tượng tan tành của gia đình cháu được. Cháu tưởng đến ngày một ngày hai đây, bọn khách nợ tham lam và tục tằn sẽ đến đây mà xâu xé, tranh giành với nhau những đồ đạc vốn là những người bạn trong cuộc đời êm ấm xưa kia của cháu, cháu tưởng đến cái vẻ mặt buồn rầu ngơ ngác của vợ con cháu trong cảnh tan nát ấy mà cháu không thể nào sống được nữa. Cháu biết rằng, cháu chết đi thì để nỗi xót thương, thiếu thốn cho vợ con cháu, nhưng nghĩ rằng chú là người rất thương yêu cháu, chắc là sau khi cháu chết, chú sẽ đem tấm lòng giời bể kia mà đùm bọc lấy vợ con cháu, nên cháu cũng đành lòng mà nhắm mắt.
Chú ôi, "con chim lúc chết kêu thương", xin chú nghĩ đến cái tiếng gọi cuối cùng của cháu lúc sắp từ giã cõi đời này mà tha hết cả tội lỗi cho cháu cùng là che chở cho vợ con cháu, cho chúng nó khỏi bơ vơ, thì cái ơn cao dày ấy dẫu kiếp này không giả được, kiếp sau cháu cũng xin thác sinh làm thân trâu ngựa để đền bồi.

Văn Học Việt Nam: Cánh Phượng Tình Thơ - Thu Trinh, 137 Trang

Văn Học Việt Nam: Cánh Phượng Tình Thơ - Thu Trinh, 137 Trang

Mùa hè năm 1972 hai anh em tôi được mẹ gửi lên ở nhà dì Hai ở thị trấn Bảo Lộc để đi học. Lúc đó anh Quang Hùng bắt đầu vào lớp 11 và tôi bắt đầu vào lớp 9. Dì Hai có tất cả bốn người con, chị Bích Phượng lớn nhất, sau hai lần thi tú tài không đậu chị bỏ con đường đi học chỉ ở nhà phụ dì Hai buôn bán, trông nom nhà cửa và nấu nướng. Anh Quốc Dũng cùng tuổi với tôi học lớp 9. Hai người con còn lại của dì nhỏ tuổi hơn chúng tôi, chị Bích Dung học lớp 5 và anh Quốc Trung học lớp 6.
Dì Hai có một cửa tiệm bán gạo ngoài chợ, dì là người cai quản và đứng bán chính, chị Bích Phượng mỗi ngày ra phụ với dì vào buổi sáng lúc chợ đông người. Gần trưa, chị Phượng về nhà nấu cơm và dọn dẹp nhà cửa, đến chiều chị mới quay ra lại tiệm phụ dì Hai dọn hàng và đóng cửa. Dượng Hai làm hành chánh cho phòng bưu điện của thị trấn. Dượng làm công chức nên ngày nào cũng ‘sáng xách cặp đi, chiều xách cặp về’. Buổi trưa thì dượng ghé về nhà để ăn cơm và ngủ trưa, sau đó lại quay lại văn phòng làm việc đến chiều mới về.
Sau khi gửi hai anh em tôi lên ở trọ nhà dì Hai, mẹ tôi vẫn tiếp tục ở lại Sài Gòn đi làm. Tháng tháng mẹ gửi tiền lên cho dì Hai để phụ giúp trả tiền chi phí ăn uống và học hành cho anh em tôi. Dì Hai nhất định không bao giờ chịu lấy số tiền này. Dì nói rằng gia đình dì đủ dư giả để nuôi thêm anh em tôi, cháu chắt trong nhà dì không muốn tính toán những chuyện nhỏ nhặt như vậy. Tuy nhiên mẹ tôi không chịu, mẹ nói nếu dì Hai không lấy tiền thì mẹ sẽ không nhờ nữa và sẽ đem anh em tôi trở về lại Sài Gòn. Dì Hai chẳng đặng mới nhận tiền. Dì chỉ lấy một số nhỏ làm tượng trưng, nói tiền này dì để cho anh em tôi may quần áo mặc, mua sách vở đi học và để xài riêng khỏi phải xin ai.