Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

Tài Liệu Ôn Thi Lịch Sử Đảng - Nhiều Tác Giả, 13 Trang

Sau cách mạng tháng Mười Nga (1917), phong trào Cộng Sản và công nhân quốc tế phát triển mạnh mẽ. Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất đề cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin và đã đi đến một sự lựa chọn dứt khoát con đường giải phóng dân tộc do Lênin vạch ra.
Tháng 12 năm 1920, tại Đại Hội Đảng xã hội Pháp họp ở Tua, Nguyễn Ái Quốc đã tán thành việc gia nhập Quốc tế thứ III và biểu quyết sáng lập ra Đảng Cộng Sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc trở thành chiến sĩ Cộng Sản đầu tiên của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc tích cực xúc tiến việc chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Về mặt tư tưởng và chính trị: - Người đã viết bài đăng các báo: “Người cùng khổ”, báo “Nhân đạo” – cơ quan Trung ương của Đảng Cộng Sản Pháp, báo “Đời sống công nhân” – tiếng nói của giai cấp công nhân, báo “Sự thật” (Liên Xô), Tạp chí thư tín quốc tế (Quốc tế Cộng Sản), báo Thanh niên (Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội)… và tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, “Đường cách mệnh”. Qua nội dung của các bài báo đó Người đều tập trung lên án chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân nói chung và chủ nghĩa thực dân Pháp. Người vạch trần bản chất xâm lược, phản động, bốc lột, đàn áp tàn bạo của chủ nghĩa thực dân. Bằng những bằng chứng sinh động, cụ thể, Người đã tố cáo trước dư luận Pháp và thế giới tội ác tày trời của thực dân Pháp đối với nhân dân các nước thuộc địa. Đặc biệt, Người đã trình bày các quan điểm lý luận về cách mạng thuộc địa một cách đúng đắn, sáng tạo và khá hoàn chỉnh. Hệ thống quan điểm đó được truyền vào Việt Nam nhằm chuẩn bị về tư tưởng và chính trị cho việc thành lập Đảng.

[Audio Book] Bên Bờ Hạnh Phúc - Thu Nga | Đọc: Hoàng Tín (DOC MP3)

http://www.thuvienso.info Khán giả trong rạp bắt đầu la ó càng ngày càng to hơn. Mỹ Nhàn vẹt bức màn nhung nhìn qua kẽ hở:
- Không biết anh Tám Bân đi đâu cà? Khán giả đang làm reo!

- Chắc lại đi nhậu say, không về được nữa rồi chớ gì !?
Chị Hậu, một đào già nhất bọn trả lời. Hai Bân là ông bầu của đoàn "Sao Biển" và cũng là kép chánh của đoàn, tối nay Tám Bân đóng vai Tùng trong vở tuồng "Nửa Đời Hương Phấn". Mỹ Nhàn quay lại, tất cả mọi đào kép, già cũng như trẻ, đang đứng nhìn nàng như thể chờ nàng quyết định sai bảo làm điều gì, trong trường học dở khóc dở cười này, không có kép chánh làm sao hát? Mỹ Nhàn hối hận tại sao mình lại nhận lời hát cho cái đoàn cải lương nhỏ xíu này không biết? Lại phải di chuyển hoài đến những tỉnh hẻo lánh và buồn tẻ của miền trung nước Việt, như cái xứ Tuy Hoà này. Nhưng nghĩ lại thì cũng chỉ vì nàng cần tiền quá. Cha mẹ nàng mất, chị nàng lấy chồng , sau khi đã giải nghệ hát ca. Mỹ Nhàn phải cố gắng tìm việc làm để tự nuôi thân, nàng đã thử qua đủ nghề, cuối cùng rồi cũng chỉ thích hợp với mỗi nghề ca hát mà thôi.
- Mở màn đi! trả tiền lại!
Có tiếng la ó ở dưới khán giả vọng lên.
- Mỹ Nhàn, chị đi hát đã nhiều nơi, trong trường hợp này, chắc chị phải biết làm sao, phải không?
Một cô đào lên tiếng đầy vẻ lo âu.
- Nhưng tôi chưa bao giờ bị gặp cảnh kép chánh cho leo cây như vầy cả.
Mỹ Nhàn lại kéo hé màn nhìn xuống phía dưới lần nữa. Khán giả, người nào người nấy cũng có nét giận dữ, khó chịu, họ bắt tay lên miệng để làm loa la to, có người đứng dậy để la cho lớn hơn. Chợt nàng chú ý đến một người đàn ông ngồi ở hàng ghế hạng nhất, ông ta không có vẻ gì bực mình cả, bên cạnh ông là một người đàn bà, mà Mỹ Nhàn đoán là người vợ, sắc mặt có vẻ mỏi mệt, bà ta không được đẹp gái lắm, so với ông chồng. Người đàn ông có một mái tóc dày và đen bóng như cặp mắt, hai vai rộng, ông ta nhìn quanh có vẻ chán nản chứ không phải tức giận như những người khác, không, cũng không phải chán nản nữa, mà hình như có vẻ buồn rầu thì phải.

Bài Tập và Bài Giải Nguyên Lý Kế Toán - Ts.Phan Đức Dũng, 498 Trang

http://www.thuvienso.info Cùng với phương hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế, nhu cầu thông tin ngày càng đòi hỏi một cách cấp thiết. Kế toán với tư cách là công cụ cung cấp thông tin một cách hữu hiệu cho các nhà lãnh đạo và quản lý lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết nhất là trong quá trình phát triển kinh tế dù ở bất kỳ quốc gia nào, doanh nghiệp cũng đóng góp một phần không nhỏ vào các công trình phúc lợi xã hội và góp phần giải quyết việc làm. Chính vì vậy, kiến thức về kế toán ngày nay không chỉ dừng lại ở những nhà chuyên môn mà là kiến thức phổ thông cho những người tham gia kinh doanh.
Vấn đề quan trọng đối với độc giả không chỉ dừng lại ở sự hiểu biết về công việc kinh doanh mà còn phải biết kinh doanh như thế nào để có hiệu quả, và kế toán sẽ giúp cho độc giả hiểu được một phần nào đó. Từ thực tiễn đó, đã thôi thúc tác giả mạnh dạn viết cuốn sách với tựa  đề: "Nguyên lý kế toán - Lý thuyết và bài tập" dùng riêng cho học sinh, sinh viên khối trung học chuyên nghiệp và cao đẳng, để góp một chút khiêm tốn vào tủ sách học tập và tham khảo của độc giả. Cuốn sách được tham khảo từ những tài liệu mới nhất trong nước và nước ngoài, đồng thời cập nhật đầy đủ những thay đổi về phương pháp xử lý nghiệp vụ kế toán trên cơ sở các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam đã được bộ Tài chính ban hành.
Nội dung trình bày trong cuốn sách này được thực hiện trong 08 chương, mỗi chương được bố cục theo 3 nội dung chính:
- Mục tiêu học tập - nhằm giúp cho độc giả xác định được mục tiêu của từng chương để thuận lợi trong quá trình nghiên cứu.
- Nội dung chính của chương - Nội dung này sẽ được bố cục theo kết cấu xử lý công việc của một người bắt đầu với công việc kế toán.
- Nội dung tóm tắt chương và ví dụ ứng dụng - Nội dung tóm tắt nhằm tổng kết lại những nội dung chủ yếu cần nhớ của từng chương và phần ví dụ ứng dụng nhắm giúp cho độc giả cũng cố lại kiến thức mà mình đã tích lũy qua từng chương.

Cơ Sở Địa Lý Học Version 1.1 - Võ Quang Minh, 22 Trang

qqBản đồ địa lý là sự biểu thị thu nhỏ qui ước của bề mặt trái đất lên mặt phẳng, xây dựng trên cơ sở toán học với sự trợ giúp và sử dụng các ký hiệu qui ước để phản ánh sự phân bố, trạng thái và mối quan hệ tương quan của các hiện tượng thiên nhiên và xã hội được lựa chọn và khái quát hoá để phù hợp với mục đích sử dụng của bản đồ và đặc trưng cho khu vực nghiên cứu.
Chúng ta biết trái đất có dạng Geoid, nhưng trong thực tế được coi là hình Elipxoid có kích thước và hình dạng gần đúng như hình Geoid.
Khi biểu thị lên mặt phẳng một phần nhỏ bề mặt trái đất (trong phạm vi 20x20km) thì độ cong trái đất có thể bỏ qua. Trong trường hợp này các đường thẳng đã đo trên thực địa được thu nhỏ theo tỷ lệ qui định và biểu thị trên giấy không cần hiệu chỉnh độ cong của trái đất. Những bản vẽ như thế gọi là bình đồ.Trên bình đồ, tỷ lệ ở mọi nơi và mọi hướng đều như nhau. Trên bản đồ biểu thị toàn bộ trái đất hoặc một diện tích lớn thì độ cong của trái đất là không thể bỏ qua.Việc chuyển từ mặt Elipxoid lên mặt phẳng được thực hiện nhờ phép chiếu bản đồ. Các phép chiếu biểu hiện quan hệ giữa toạ độ các điểm trên mặt đất và toạ độ các điểm đó trên mặt phẳng bằng các phương pháp toán học. trong trường hợp này, các phần tử nội dung bản đồ giữ đúng vị trí địa lý, nhưng sẽ có sai số về hình dạng hoặc diện tích. Bề mặt trái đất được biểu thị trên bản đồ với mức độ thu nhỏ khác nhau tại những phần khác nhau của nó, có nghĩa là tỷ lệ ở những điểm khác nhau trên bản đồ cũng khác nhau. Có thể biểu thị mặt cầu trái đất trên mặt phẳng theo nhiều cách khác nhau. Nếu dùng các phép chiếu khác nhau và tuân theo các điều kiện toán học nhất định đặt ra cho sự biểu thị đó. Ví dụ: người ta cần những phép chiếu đồng góc hoặc đồng diện tích. Muốn vậy, theo những điều kiện nhất định tính toạ độ các giao điểm của kinh tuyến và vĩ tuyến. Dựa theo những điểm này dựng hệ lưới kinh vĩ tuyến gọi là lưới bản đồ. Lưới bản đồ dùng làm cơ sở để chuyển vẽ toàn bộ nội dung còn lại của bản đồ

Các Nghiên Cứu Về Ngành Rau Quả Của Việt Nam - Viện Kinh Tế, 48 Trang

qqTrong thời gian qua, nhất là kể từ đầu thập kỷ 90, diện tích rau, quả của Việt Nam phát triển nhanh chóng và ngày càng có tính chuyên canh cao. Tính đến năm 2004, tổng diện tích trồng rau, đậu trên cả nước đạt trên 600 nghìn ha, gấp hơn 3 lần so với năm 1991. Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là vùng sản xuất lớn nhất, chiếm khoảng 29% sản lượng rau toàn quốc. Điều này là do đất đai ở vùng ĐBSH tốt hơn, khí hậu mát hơn và gần thị trường Hà Nội. ĐBSCL là vùng trồng rau lớn thứ 2 của cả nước, chiếm 23% sản lượng rau của cả nước. Đà Lạt, thuộc Tây Nguyên, cũng là vùng chuyên canh sản xuất rau cho xuất khẩu và cho nhu cầu tiêu thụ thành thị, nhất là thị trường thành phố Hồ Chí Minh và cho cả thị trường xuất khẩu.
Cũng trong giai đoạn từ đầu thập kỷ 90, tổng sản lượng rau đậu các loại đã tăng tương đối ổn định từ 3,2 triệu tấn năm 1991 lên đạt xấp xỉ 8,9 triệu tấn năm 2004. Bên cạnh rau, diện tích cây ăn quả cũng tăng nhanh trong thời gian gần đây. Tính đến năm 2004, diện tích cây ăn quả đạt trên 550 ngàn ha. Trong đó,  Đồng Bằng sông Cửu
long (ĐBSCL) là vùng cây ăn quả quan trọng nhất của Việt Nam  chiếm trên 30% diện tích cây ăn quả của cả nước
Nhờ có nhu cầu ngày càng tăng này nên diện tích cây ăn quả trong thời gian qua tăng mạnh. Trong các loại cây ăn quả, một số cây nhiệt đới đặc trưng như vải, nhãn, và chôm chôm tăng diện tích lớn nhất vì ngoài thị trường trong nước còn xuất khẩu tươi và khô sang Trung Quốc. Năm 1993, diện tích của các loại cây này chưa thể hiện trong số liệu thống kê. Từ năm 1994, diện tích trồng 3 loại cây này tăng gấp 4 lần, với mức tăng trường bình quân 37%/năm, chiếm 26% diện tích cây ăn quả cả nước. Diện tích cây có múi và xoài cũng tăng mạnh bình quân 18% và 11%/năm. Chuối tuy là cây trồng quan trọng chiếm 19% diện tích cây ăn quả cả nước nhưng chưa trở thành sản phẩm hàng hoá qui mô lớn. Diện tích dứa giảm trong thập niên 1990, nhất là từ khi Việt Nam mất thị trường xuất khẩu Liên Xô và Đông âu.

Các Thành Phần Của Hệ Thống Thông Tin Địa Lý - Võ Quang Minh, 7 Trang

qqCông nghệ GIS bao gồm 5 hợp phần cơ bản là:
- Thiết bị (hardware)
- Phần mềm (software)
- Số liệu (Geographic data)
- Chuyên viên (Expertise)
- Chính sách và cách thức quản lý (Policy and management)

Ðây là hợp phần rất quan trọng để đảm bảo khả năng hoạt động của hệ thống, là yếu tố quyết định sự thành công của việc phát triển công nghệ GIS. Hệ thống GIS cần được điều hành bởi một bộ phận quản lý, bộ phận này phải được bổ nhiệm để tổ chức hoạt động hệ thống GIS một cách có hiệu quả để phục vụ người sử dụng thông tin.Để hoạt động thành công, hệ thống GIS phải được đặt trong 1 khung tổ chức phù hợp và có những hướng dẫn cần thiết để quản lý, thu thập, lưu trữ và phân tích số liệu, đồng thời có khả năng phát triển được hệ thống GIS theo nhu cầu. Hệ thống GIS cần được điều hành bởi 1 bộ phận quản lý, bộ phận này phải được bổ nhiệm để tổ chức hoạt động hệ thống GIS một cách có hiệu quả để phục vụ người sử dụng thông tin. Trong quá trình hoạt động, mục đích chỉ có thể đạt được và tính hiệu quả của kỹ thuật GIS chỉ được minh chứng khi công cụ này có thể hỗ trợ những người sử dụng thông tin để giúp họ thực hiện được những mục tiêu công việc. Ngoài ra việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng có liên quan cũng phải được đặt ra, nhằm gia tăng hiệu quả sử dụng của GIS cũng như các nguồn số liệu hiện có.Như vậy, trong 5 hợp phần của GIS, hợp phần chính sách và quản lý đóng vai trò rất quan trọng để đảm bảo khả năng hoạt động của hệ thống, đây là yếu tố quyết định sự thành công của việc phát triển công nghệ GIS.Trong phối hợp và vận hành các hợp phần của hệ thống GIS nhằm đưa vào hoạt động có hiệu quả kỹ thuật GIS, 2 yếu tố huấn luyện và chính sách - quản lý là cơ sở của thành công. Việc huấn luyện các phương pháp sử dụng hệ thống GIS sẽ cho phép kết hợp các hợp phần: (1) Thiết bị (2) Phần mềm (3) Chuyên viên và (4) Số liệu với nhau để đưa vào vận hành. Tuy nhiên, yếu tố chính sách và quản lý sẽ có tác động đến toàn bộ các hợp phần nói trên, đồng thời quyết định đến sự thành công của hoạt động GIS.

Cấu Trúc Cơ Sở Dữ Liệu Trong GIS - Võ Quang Minh, 11 Trang

qqMột cơ sở dữ liệu của hệ thống thông tin địa lý có thể chia ra làm 2 loại số liệu cơ bản: số liệu không gian và phi không gian. Mỗi loại có những đặc điểm riêng và chúng khác nhau về yêu cầu lưu giữ số liệu, hiệu quả, xử lý và hiển thị.    Số liệu không gian là những mô tả số của hình ảnh bản đồ, chúng bao gồm toạ độ, quy luật và các ký hiệu dùng để xác định một hình ảnh bản đồ cụ thể trên từng bản đồ. Hệ thống thông tin địa lý dùng các số liệu không gian để tạo ra một bản đồ hay hình ảnh bản đồ trên màn hình hoặc trên giấy thông qua thiết bị ngoại vi, …    Số liệu phi không gian là những diễn tả đặc tính, số lượng, mối quan hệ của các hình ảnh bản đồ với vị trí địa lý của chúng. Các số liệu phi không gian được gọi là dữ liệu thuộc tính, chúng liên quan đến vị trí địa lý hoặc các đối tượng không gian và liên kết chặt chẽ với chúng trong hệ thống thông tin địa lý thông qua một cơ chế thống nhất chung.
Dữ liệu là trung tâm của hệ thống GIS, hệ thống GIS chứa càng nhiều thì chúng càng có ý nghĩa. Dữ liệu của hệ GIS được lưu trữ trong CSDL và chúng được thu thập thông qua các mô hình thế giới thực. Dữ liệu trong hệ GIS còn được gọi là thông tin không gian. Đặc trưng thông tin không gian là có khả năng mô tả “vật thể ở đâu” nhờ vị trí tham chiếu, đơn vị đo và quan hệ không gian. Chúng còn khả năng mô tả “hình dạng hiện tượng” thông qua mô tả chất lượng, số lượng của hình dạng và cấu trúc. Cuối cùng, đặc trưng thông tin không gian mô tả “quan hệ và tương tác” giữa các hiện tượng tự nhiên. Mô hình không gian đặc biệt quan trọng vì cách thức thông tin sẽ ảnh hưởng đến khả năng thực hiện phân tích dữ liệu và khả năng hiển thị đồ hoạ của hệ thống.

Các Đặc Điểm Của Hệ Thống Thông Tin Địa Lý - Võ Quang Minh, 7 Trang

Hệ thống thông tin địa lý trước hết là một hệ thống thông tin cũng như các hệ thống thông tin khác, ví dụ như thương mại, pháp luật, ngân hàng, ... Các hệ thống thông tin nói chung đều bao gồm các phần:
-Hệ thống thiết bị phần cứng bao gồm máy tính hoặc hệ mạng máy tính, các thiết bị đầu vào, các thiết bị đầu ra.
-Hệ thống phần mềm bao gồm phần mềm hệ thống, phần mềm quản trị, phần mềm ứng dụng.
-Hệ thống thông tin đầu vào và hệ thống cập nhật thông tin.
-Hệ thống CSDL bao gồm các loại dữ kiện cần thiết.
-Hệ thống hiển thị thông tin và giao diện với người sử dụng
Sự khác nhau giữa hệ thống thông tin địa lý với các hệ thống thông tin khác chỉ ở hai điểm sau:
-CSDL bao gồm các dữ liệu địa lý và các dữ liệu thuộc tính (các dữ liệu chữ - số, dữ liệu multimedial,... ) và mối quan hệ giữa hai loại dữ liệu này.
-Hệ thống thông tin đầu vào và hệ thống hiển thị thông tin đòi hỏi những đặc thù riêng về độ chính xác.
Việc chồng lắp các bản đồ trong kỹ thuật GIS là một khả năng ưu việt của GIS trong việc phân tích các số liệu thuộc về không gian, để có thể xây dựng thành một bản đồ mới mang các đặc tính hoàn toàn khác với bản đồ trước đây. Dựa vào kỹ thuật chồng lắp các bản đồ mà ta có các phương pháp sau:
-Phương pháp cộng (sum)
-Phương pháp nhân (multiply)
-Phương pháp trừ (substract)
-Phương pháp chia (divide)
-Phương pháp tính trung bình (average)
-Phương pháp hàm số mũ (exponent)
-Phương pháp che (cover)
-Phương pháp tổ hợp (crosstabulation)

Các Ứng Dụng Của Hệ Thống Thông Tin Địa Lý - Võ Quang Minh, 8 Trang

Nhờ những khả năng phân tích và xử lý đa dạng, kỹ thuật GIS hiện nay được ứng dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực, được xem là "công cụ hỗ trợ quyết định (decision - making support tool). Một số lĩnh vực được ứng dụng chủ yếu ở nhiều nơi trên thế giới là:
NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
-Quản trị rừng (theo dõi sự thay đổi, phân loại...),
-Quản trị đường di cư và đời sống động vật hoang dã,
-Quản lý và quy hoạch đồng bằng ngập lũ, lưu vực sông,
-Bảo tồn đất ướt, Phân tích các biến động khí hậu, thuỷ văn.
-Phân tích các tác động môi trường (EIA),
-Nghiên cứu tình trạng xói mòn đất,
-Quản trị sở hữu ruộng đất,
-Quản lý chất lượng nước,
-Quản lý, đánh giá và theo dõi dịch bệnh,
--Xây dựng bản đổ và thống kê chất lượng thổ nhường.
-Quy hoạch và đánh giá sử dụng đất đai.

Cẩm Nang Du Lịch Việt Nam - Minh Anh | Hải Yến, 498 Trang

qqDải đất Việt Nam cong cong hình chữ S, mềm mại như cô gái dịu dàng, lưng tựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, mặt hướng ra biển Đông xanh thẳm. Dọc theo khắp chiều dài đất nước, có biết bao những thắng cảnh thú vị thu hút khách tham quan: Sapa mờ sương phủ, thủ đô Hà Nội xanh cổ kính, Hạ Long núi đá vôi xếp tầng, Huế mộng mơ, những chùm thác Tây Nguyên ngày đêm tung bọt trắng xoá, Đà Lạt thơ mộng với hồ Than Thở và thung lũng Tình Yêu, biển trời Nha Trang xanh thẳm, Tháp Chàm độc đáo, Thành Phố Hồ Chí Minh phồn hoa, sôi động, Cà Mau với rừng U Minh hùng vĩ, hoang sơ.
Sông, núi đất đai màu mỡ. Cảnh quan thiên nhiên kì thú, đa dạng, phong phú cùng truyền thống hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước hào hùng. Thời gian và con người đã tạo nên vô số những chứng tích văn hoá và lịch sử vô cùng sâu xa và đặc sắc. Việt Nam đang là điểm dừng chân yêu thích của nhiều khách du lịch từ khắp thế giới và là điểm đến của thiên niên kỉ mới.
Ngoài những di sản tự nhiên, lịch sử, chính con người Việt Nam, người Kinh và 53 dân tộc thiểu số sống khắp mọi miền đất nước, và đời sống sinh hoạt xã hộ cộng đồng đa dạng nhiều màu sắc đã tạo nên nhiều không gian du lịch sinh thái văn hoá lí thú.Có thể nói Việt Nam là một đất nước du lịch. Mọi loại hình du lịch đều có mặt nời đây: thám hiểm, sinh thái, văn hoá...
Mục Lục:
1. Du lịch vùng đồng bằng sông Hồng:
2. Du lịch vùng Đông Bắc
3. Du lịch vùng Tây Bắc
4. Du lịch vùng Bắc Trung Bộ
5. Du lịch vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ
6. Du lịch vùng Tây Nguyên
7. Du lịch vùng Đông Nam Bộ
8. Du lịch vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long