Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

Bài Giảng Môn Tổ Chức Mạng Viễn Thông - Nhiều Tác Giả, 57 Trang

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ MẠNG VIỄN THÔNG
Bài 1 : Mạng viễn thông
Bài 2 : Kỹ thuật mạng lưới viễn thông
CHƯƠNG II :THIẾT KẾ VÀ QUY HOẠCH KẾT NỐI MẠNG (Topology)
Bài 1:Lý thuyết về đồ thị (Graph Theory)
Bài 2: Thuật toán ứng dụng trong thiết kế mạng
Bài 3: Thiết kế kết nối (Topology Design)
CHƯƠNG III: LÝ THUYẾT LƯU LƯỢNG VÀ HÀNG ĐỢI
Bài 1: Khái niệm về lưu lượng và đơn vị Erlang
Bài 2: Sự biến động lưu lượng , khái niệm giờ bận và tắc nghẽn
Bài3 :Hệ thống tổn thất (Loss) và công thức Erlang B
Bài 4: Hệ thống trễ (Delay) và công thức Erlang C
Bài 5: Nguyên lý Moe
Bài 6: Lý thuyết hàng đợi
Bài 7 : Tiến trình điểm
Bài 8 : Tiến trình Poisson
Bài 9: Định lý Little
Bài 10 : Phân tích một hàng đợi đơn
CHƯƠNG IV :HỆ THỐNG QUẢN LÝ MẠNG
Bài 1: Tổng quan về quản lý mạng
Bài 2: Khái niệm cơ bản về quản lý mạng
Bài 3 : Hệ thống quản lý mạng

Kỹ thuật gây trồng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ - Nguyễn Viết Khoa, 134 Trang

qqNgày nay, phát triển lâm sản ngoài gỗ đã mang lại nhiều lợi ích cho con người, không những góp phần tăng thu nhập cho nông dân nghèo gắn với rừng mà còn cải thiện môi trường sinh thái và đa dạng sinh học của rừng. Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, đất đai phù hợp với trồng các loài cây lâm sản ngoài gỗ khác nhau với các phương thức khác nhau. Dự báo thị trường lâm sản ngoài gỗ trong và ngoài nước có nhiều triển vọng để phát triển và bảo tồn lâm sản ngoài gỗ.
Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt đề án phát triển và bảo tồn lâm sản ngoài gỗ quốc gia giai đoạn 2007-2010 và tầm nhìn 2020 (QĐ số 2242/QĐ-BNN-LN ngày 7/8 năm 2007). Một trong những mục tiêu của đề án là nâng cao diện tích gây trồng và chất lượng lâm sản ngoài gỗ phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu trong những năm tới.
Nhằm góp phần thực hiện sự nghiệp trồng rừng nói chung và đề án phát triển bảo tồn lâm sản ngoài gỗ nói riêng, Trung tâm khuyến nông biên soạn cuốn ”Kỹ thuật gây trồng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ” nhằm giới thiệu kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, khai thác, chế biến, bảo quản... một số loài cây lâm sản ngoài gỗ chủ yếu cho cán bộ khuyến nông các cấp và đông đảo bạn đọc.
Đời sống của cây rừng thường kéo dài nhiều năm và phụ thuộc vào từng vùng sinh thái cụ thể, có thể còn nhiều vấn đề sản xuất đòi hỏi nhưng trong khuôn khổ cuốn sách chưa giải đáp được. Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của bạn đọc để nội dung cuốn sách được bổ sung đầy đủ hơn.

Read more: http://www.thuvienso.info/index.php/component/thuvientructuyen/chitiet/xem/19319/ky-thuat-gay-trong-mot-so-loai-cay-lam-san-ngoai-go-nguyen-viet-khoa-134-trang#ixzz1sAF9i0zH

Đại Số và Hình Học Giải Tích 1-2 - Tạ Lê Lợi, 156 Trang

qqChương 0. Kiến thức chuần bị
1. Các cấu trúc đại số cơ bản
2. Trường số phức
3. Đa thức
Chương I. Không gian vector hình học
1. Vector hình học
2. Cơ sở Descartes - Tọa độ
3. Công thức đại số của các phép toán trên vector
4. Đường thẳng và mặt phẳng
Chương II. Ma trận - Phương pháp khử Gauss
1. Ma trận
2. Các phép toán trên ma trận
3. Phương pháp khử Gauss
Chương III. Không gian vector
1. Không gian vector - Không gian vector con
2. Cơ sở - Số chiều - Tọa độ
3. Tổng - Tích - Thương không gian vector
Chương IV. Ánh xạ tuyến tính
1. Ánh xạ tuyến tính
2. Ánh xạ tuyến tính và ma trận
3. Không gian đối ngẫu
Chương V. Định thức
1. Định thức
2. Tính chất của định thức
3. Tính định thức
4. Một số ứng dụng của định thức
Chương VI. Chéo hóa
1. Chuyển cơ sở
2. Vector riêng - Gía trị riêng
3. Dạng đường chéo - Chéo hóa
Chương VII. Không gian vector Euclid
1. Không gian vector Euclid
2. Một số ứng dụng
3. Toán tử trực giao - Ma trận trực giao
4. Toán tử đối xứng - Chéo hóa trực giao ma trận đối xứng
Chương VIII. Dạng song tuyến tính - Dạng toàn phương
1. Dạng song tuyến tính
2. Dạng toàn phương
3. Dạng chính tắc
Chương IX. Áp dụng vào hình học
1. Cấu trúc affin chính tắc của một không gian vector
2. Một số ánh xạ affin thông dụng
3. Đường, mặt bậc 2 .

Bài Tập Kinh Tế Quốc Tế - Pgs.Ts.Hoàng Thị Chỉnh | Nguyễn Phú Tụ, 286 Trang

qqNội dung bài tập Kinh tế quốc tế bao gồm những câu hỏi lý thuyết và các dạng bài tập phục vụ cho từng chương . Các câu hỏi lý thuyết giúp sinh viên có thể hệ thống lại toàn bộ nội dung đã trình bày trong Giáo trình Kinh tế quốc tế , đồng thời vận dụng nó để giải quyết một số tình huống nhất định trong thực tế . tất cả các bài tập đều có những lời giải mẫu hoặc đáp số hay hướng dẫn cách giải .Ngoài ra chúng tôi còn đưa 200 câu hỏi trắc nghiệm vừa lý thuyết vừa bài tập có kèm theo đáp án để sinh viên có điều kiện tập luyện và tự kiểm tra kiến thức của mình
Phần 1. Lý thuyết và bài tập
Chương 1. Những vấn đề chung về kinh tế quốc tế
Chương 2. Lý thuyết cổ điển về mậu dịch quốc tế
Chương 3. Lý thuyết hiện đại về mậu dịch quốc tế
Chương 4. Thuế quan, một hình thức hạn chế mậu dịch
Chương 5. Hình thức hạn chế mậu dịch khác và đàm phán
Chương 6. Liên kết kinh tế quốc tế, liên hiệp quan thuế
Chương 7. Mậu dịch quốc tế và phát triển kinh tế
Chương 8. Di chuyển nguồn lực quốc tế
Chương 9. Thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái
Chương 10. Cán cân thanh toán
Chương 11. Hệ thống tài chính và tiền tệ thế giới
Phần 2. Trả lời bài tập
Chương 1. Những vấn đề chung về kinh tế quốc tế
Chương 2. Lý thuyết cổ điển về mậu dịch quốc tế

Giáo Trình Kế Toán Thuế và Báo Cáo Thuế - Ts.Phan Đức Dũng, 898 Trang

qqCuốn sách này gồm những nội dung chính sau:
Chương 1: Giới thiệu về thuế và kế toán thuế.
Chương 2: Kế toán thuế giá trị gia tăng.
Chương 3: Kế toán thuế tiêu thụ đặc biệt.
Chương 4: Kế toán thuế xuất nhập khẩu.
Chương 5: Kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp.
Chương 6: Kế toán thuế thu nhập cá nhân.
Chương 7: Kế toán thuế tài nguyên.
Chương 8: Kế toán thuế nhà đất.
Chương 9: Kế toán các loại thuế khác, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác.
Phần câu hỏi trắc nghiệm và bài tập tổng hợp.

Thuế hay thu ngân sách nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ Ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước. Thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật (như giao dịch, tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội. Đóng thuế vừa là quyền lợi được thực thi trách nhiệm công dân đóng góp cho sự phát triển phồn vinh của đất nước, vừa là nghĩa vụ phải thực hiện của mỗi công dân.
Do chính quyền gồm chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, các cấp chính quyền đều có ngân sách riêng, và được phân quyền các nhiệm vụ chi (cung ứng hàng hóa công cộng) riêng, nên có thuế quốc gia (nộp vào ngân sách trung ương) và thuế địa phương (nộp vào ngân sách chính quyền địa phương).

Đông Phương Huyền Bí - Paul Brunton | Dịch: Nguyễn Hữu Kiệt, 432 Trang

qqSách này cũng có thể lấy tựa là Ấn Độ huyền bí, vì thực sự là nó đê cập đến những nét huyền bí là vì cái tính cách thiêng liêng, cao quý của nó. Thông thường, người ta không ai muốn phô bày trước mắt mọi người những gì mà họ cho là thiêng liêng quí báu nhất. Một bản năng trong tiềm thức xui khiến họ phải ẩn giấu những điều ấy ở nơi sâu kín nhất của tâm hồn. Và nếu họ không thể che giấu tất cả mọi người, thì họ cũng chỉ tiết lộ cho một số rất ít người cùng chung lý tưởng mà thôi. Đó là nói về trường hợp riêng biệt của một người, của từng cá nhân. Đối với một dân tộc, một quốc gia cũng vậy. Một dân tộc cũng nghe theo tiếng nói của bản năng mà ẩn giấu những gì thiêng liêng quí báu nhất của mình sau một tấm màn bí mật hoàn toàn. Và đó là trường hợp của xứ Ấn Độ. Những gì thiêng liêng nhất của họ cũng là những gì mà họ cố giữ bí mất nhất, không thể tiết lộ ra ngoài cho những kẻ thế nhân phàm tục.
Nhưng sự bí mật, ẩn giấu vẫn luôn kêu gọi sự tìm tòi, khám phá của người có chí nguyện sưu tầm và học hỏi. Trong Thánh kinh có câu: “Ngươi hãy gõ cửa, rồi cửa sẽ mở; ngươi hãy tìm, rồi ngươi sẽ gặp.” Đối với những ai là người có đủ sự kiên gan bền chí, tìm kiếm với hết cả tâm hồn, với một ý chí mãnh liệt, thì tấm màn bí mật kia có ngày cũng sẽ từ từ vén lên. Ông Paul Brunton, tác giả quyển sách này, là người có cái ý chí đó. Nhưng trước khi đạt được mục đích, ông đã phải trải qua những sự khó khăn không biết là dường nào! Vì ở Ấn Độ cũng như ở các xứ khác, người ta chỉ tìm thấy sự chân thật sau khi đã gạn lọc, chiến đấu và loại bỏ những gì là hư dối bên ngoài. Người đi tầm đạo phải tự vạch lấy một con đường sau khi đã gặp phải rất nhiều những tay pháp sư, phù thuỷ, đạo sĩ, thuật sĩ… đủ hạng và mọi trình độ. Những người này đã tập luyện tinh thần và thể xác của họ đến một mức độ phi thường. Nhiều người trong số đó đã khai thác và sử dụng được những sức mạnh mà người ta gọi là năng lực thần bí. Đó là một hạng người lý thú đáng được sự chú ý của các nhà bác học chuyên khảo cứu về những hiện tượng tâm linh. Nhưng họ chưa phải là hạng người đã được chân lý. Họ chưa phải là hạng người tiêu biểu cho đời sống tâm linh thật sự. Họ cũng chưa phải là những người tiêu biểu cho xứ Ấn Độ huyền bí và linh thiêng mà ông Brunton muốn tìm tòi, khám phá.
Ông Brunton đã gặp họ trên lộ trình của ông, đã chú ý và phỏng vấn họ. Nhưng ông đã vượt khỏi hạng người này và tiến xa hơn nữa. Cái mà ông muốn gặp là sự sinh hoạt tâm linh, trong cái sắc thái tinh hoa, cao thượng nhất của nó, và sau cùng ông cũng đã gặp. Ở một nơi hẻo lánh hoang vu, một nơi thâm sơn cùng cốc, thường là nơi ẩn trú của những bậc thánh nhân hiền triết Ấn Độ, ông Brunton đã gặp một hiền giả có thể tiêu biểu cho những gì mà xứ Ấn Độ vẫn sùng bái, tôn thờ như điều thiêng liêng nhất của họ. Nhưng nếu Đức Maharichi, hay bậc Đại Hiền, là người đã hấp dẫn ông nhiều nhất, thì ngài cũng không phải là người duy nhất thuộc về hạng người đặc biệt đó. Ở những miền núi cao rừng rậm của xứ Ấn Độ ngày nay, người ta còn có thể tìm gặp được một vài người như thế, nhưng phải nói là rất ít. Chính những người đó mới là tiêu biểu cho cái quốc hồn quốc tuý của xứ Ấn Độ, và tiêu biểu cho sự huyền bí của Ấn Độ mà ông Brunton diễn tả trong quyển sách này của ông.

Đô Thị Hóa và Tăng Trưởng - Michael Spence | Robert M. Buckley, 280 Trang

qqỦy ban về Tăng trưởng và Phát triển được thành lập tháng Tư năm 2006 để ứng phó với hai vấn đề nổi cộm lúc đó: chúng ta chưa đề cập đầy đủ đến quá trình tăng trưởng và nếu có, thì lại phát biểu quá tự tin. Thông thường, người ta hay bỏ sót quá trình tăng trưởng khi nghĩ về việc làm thế nào để đối phó với những vấn đề cấp thiết nhất trên thế giới, như nghèo đói, mù chữ, bất bình đẳng về thu nhập, thất nghiệp và ô nhiễm môi trường. Đồng thời, hiểu biết của chúng ta về tăng trưởng kinh tế lại ít hơn là ta tưởng – mặc dù vẫn thường xuyên tham mưu cho các quốc gia đang phát triển một cách đầy tự tin. Do đó, sứ mệnh của Ủy ban là “rà soát hiện trạng kiến thức về mặt lý thuyết và thực tiễn về tăng trưởng kinh tế nhằm rút ra những bài học chính sách cho các thế hệ hoạch định chính sách hôm nay và mai sau.”
Để giúp đánh giá thực trạng kiến thức, Ủy ban đã mời các học giả và các nhà hoạch định chính sách hàng đầu trên khắp thế giới tham dự 12 cuộc hội thảo, được tổ chức trong hai năm 2007 và 2008 tại Oa-sinh-tơn, D.C., Niu-Oóc, và New Haven, cũng như tài trợ cho một loạt nghiên cứu chuyên đề. Các nghiên cứu chuyên đề này đã xem xét các lĩnh vực như chính sách tiền tệ và tài khóa, biến đổi khí hậu, bất bình đẳng, tăng trưởng và đô thị hóa – là chủ đề của ấn phẩm này. Ngoài ra, 25 nghiên cứu điển hình đã được thực hiện nhằm tìm hiểu các động lực tăng trưởng ở một số quốc gia cụ thể. Mỗi bài trình bày đều nhận được những ý kiến đóng góp của các thành viên trong Ủy ban và đại biểu tham dự hội thảo đến từ các khu vực hoạch định chính sách, nghiên cứu lý thuyết và hoạt động thực tiễn.
Các cuộc hội thảo này diễn ra với nhiều vấn đề thảo luận chuyên sâu và sôi nổi, kéo dài tới ba ngày. Điều dễ nhận thấy là các chuyên gia không phải lúc nào cũng nhất trí với nhau, kể cả đối với những vấn đề trọng tâm liên quan đến tăng trưởng. Ủy ban không có ý định che đậy hay bưng bít những điểm còn chưa được làm rõ và những quan điểm khác nhau đó. Ủy ban không muốn làm ra vẻ tự tin vào những kết luận của mình, vượt quá giới hạn của những điều đã được thực tế chứng minh. Các nhà nghiên cứu không phải lúc nào cũng biết rõ “mô hình” đúng đắn giải thích cho thế giới mà họ quan sát được; và ngay cả khi họ biết những nhân tố có vai trò quyết định, họ cũng không phải lúc nào cũng đo lường được chúng một cách thuyết phục.
Trong khi các nhà nghiên cứu tiếp tục nâng cao tầm hiểu biết của chúng ta về thế giới, thì các nhà hoạch định chính sách lại không thể chờ đợi các học giả thỏa mãn mọi điều mà họ còn hoài nghi hay giải quyết những ý kiến còn bất đồng. Quyết định được đưa ra khi chỉ mới hiểu một phần về thế giới. Hậu quả là phần lớn các quyết định chính sách, dù được chuẩn bị kỹ đến đâu, cũng đều mang tính thử nghiệm, qua đó thu được những thông tin bổ ích về sự vận hành của thế giới, kể cả khi những thử nghiệm này không đem lại kết quả như các nhà hoạch định chính sách mong đợi. Đây là thực tế cần thừa nhận, dù chỉ là để các nhà hoạch định chính sách nhanh chóng nhận ra những thất bại và rút ra bài học từ những sai lầm.
Các cuộc hội thảo chuyên đề về đô thị và nhà ở được tổ chức vào tháng Ba và tháng Năm 2007. Chúng tôi vô cùng may mắn nhận được ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu lỗi lạc và các nhà hoạt động thực tiễn giàu kinh nghiệm. Chúng tôi hết sức biết ơn tất cả các đại biểu tham dự, có tên trong danh sách dưới đây. Đoạn sau của Lời nói đầu này không liệt kê hết nội dung của các cuộc hội thảo hay các chương trong cuốn báo cáo này. Thay vào đó, đoạn này chỉ nhắc lại một số điểm thảo luận nổi bật và trình bày một số ý tưởng dẫn đến các kết luận được đưa ra trong báo cáo cuối cùng Ủy ban - Báo cáo về tăng trưởng: Các chiến lược tăng trưởng bền vững và phát triển hội nhập.

Địa Lý Du Lịch - Ts.Nguyễn Minh Tuệ | Pgs.Ts.Vũ Minh Cảnh, 258 Trang

qqCuốn Địa Lý Du Lịch do PTS Nguyễn Minh Tuệ cùng tập thể tác giả soạn thảo đáp ứng phần nào nhu cầu nghiên cứu và học tập của các cơ quan quản lý, các tổ chức nghiên cứu phát triển du lịch, của các sinh viên ngành du lịch thuộc các trường đại học, cao đẳng, trung học, các trường nghiệp vụ du lịchPhần I: Cơ sở địa lý du lịch.
Chương I: Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu địa lý du lịch.
Chương II: Các Nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của du lịch.
Chương III: Tổ chức lãnh thổ du lịch
Phần II: Địa lý du lịch Việt nam
Chương II:Tổ Chức Lãnh thổ du lịch và phân vùng du lịch.
Chương II: Vùng Du lịch Bắc Bộ.
Chương III: Vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
Trong phần này, các tác giả phân tích sâu về tiềm năng du lịch ở mỗi vùng có giá trị đối với trong và ngoài nước. Qua đó, người làm công tác du lịch có thể xác định những tuyến, điểm du lịch thích hợp nhát để tổ chức các hoạt động du lịch cho phù hợp với khách du lịch nội địa cũng như khách quốc tế.

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

IELTS Writing (New Oriental 2007) by Mat Clark, 383 Pages

http://www.thuvienso.info Hệ thống kiểm tra tiếng Anh quốc tế (tiếng Anh: International English Language Testing System, viết tắt là IELTS) là một bài kiểm tra về sự thành thạo Anh ngữ. Nó được đồng điều hành bởi ba tổ chức ESOL của Đại học Cambridge (University of Cambridge ESOL), Hội đồng Anh (British Council) và tổ chức giáo dục IDP của Úc và được triển khai từ năm 1989. Người thi có thể lựa chọn giữa hai hình thức: Academic (học thuật) hoặc General training module (đào tạo chung):
* Loại hình học thuật dành cho những ai muốn học ở bậc đại học hoặc các học viện, các hình thức đào tạo sau đại học.
* Loại hình đào tạo chung dành cho những ai muốn tham gia những khóa học nghề, muốn tìm việc làm, hoặc vì mục đích di cư.
IELTS được chấp nhận bởi phần lớn các học viện ở Australia, Anh, Canada, Ireland, New Zealand và Nam Phi, ngày càng nhiều các học viện ở Mĩ, và nhiều tổ chức nghề nghiệp. Nó cũng là một yêu cầu bắt buộc đối với việc di cư đến Australia và Canada. Kết quả của kì kiểm tra IELTS (TRF-Test Report Form) sẽ có hiệu lực trong vòng 2 năm. Trong năm 2007, đã có hơn một triệu thí sinh tham dự kì kiểm tra IELTS. Và IELTS đã trở thành hệ thống kiểm tra ngôn ngữ tiếng Anh dành cho bậc sau đại học và người di cư phổ biến nhất trên thế giới.
Tất cả các thí sinh phải hoàn thành bốn phần của bài thi: Nghe, Đọc, Viết, Nói. Các thí sinh sẽ thi chung phần Nghe và Nói trong khi phần thi Viết và Đọc sẽ khác biệt tuỳ theo việc thí sinh đó đăng kí hình thức thi Học thuật hay Đào tạo chung.
1. Nghe: là bài thi gồm khoảng 40 câu diễn ra từ 20-30 phút, trong bài thi nghe có 4 phần (số câu hỏi không được chia đều), nghe 1 lần và các đoạn nghỉ được ghi kèm trong băng hoặc đĩa. Cuối bài thi các thí sinh sẽ có 10 phút để ghi lại kết quả vào Answer Sheet (Phiếu trả lời câu hỏi) Phần 1: là các tình huống đời thường (đăng ký hoạt động, thuê nhà, nhập học) thường là 1 cuộc nói chuyện nhưng là hỏi đáp, và người đáp thường nói nhiều hơn. Phần 2: là các tình huống hướng dẫn và giới thiệu về 1 chủ đề quen thuộc (trường học, khu du lịch, chương trình ca nhạc, triển lãm,..) thường chỉ nói bởi 1 người. Phần 3: là các tình huống đối thoại giữa ít nhất là 2 người, đây là các cuộc thảo luận có tính chất học thuật hơn (Ví dụ: chọn chủ đề khóa luận, đề tài nghiên cứu khoa học) Phần 4: là 1 bài thuyết trình về 1 chủ đề học thuật, thường do 1 người nói và dùng nhiều từ ngữ mang tính chất học thuật.
2. Đọc: là bài thi gồm khoảng 40 câu hỏi trong chính xác 60 phút (không có thời gian giành cho ghi lại câu trả lời cuối bài thi), được chia làm 3 phần, mỗi phần là 1 bài đọc khoảng 1500 từ với câu hỏi được chia tương đối đều. Khác với bài nghe, bài đọc không có độ khó tăng dần mà hoàn toàn là ngẫu nhiên.
3. Viết: là 1 bài thi gồm 2 bài tập trong thời gian chính xác là 60 phút (thí sinh phải tự phân phối thời gian), gồm 1 bài về mô tả 1 biểu đồ, 1 quá trình, 1 hiện tượng được biểu diễn dưới dạng hình vẽ; 1 bài là bài luận về 1 chủ đề đưa ra.
4. Nói: Là 1 bài nói trong thời gian khoảng 12-15 phút, gồm 3 phần: Phần 1: Trả lời các câu hỏi về các chủ đề chung chung như quê hương, gia đình, sở thích, ... Phần 2: Người hỏi sẽ đưa cho bạn 1 yêu cầu về mô tả 1 sự việc hiện tượng có liên quan đến bạn, trong yêu cầu sẽ có 4 gợi ý để thí sinh có thể dễ dàng phát triển ý. Thí sinh có 1 phút để suy nghĩ và nhiều nhất là 2 phút để trả lời. Kết thúc phần trả lời, người hỏi có thể sẽ hỏi thêm 1 đến 2 câu hỏi. Phần 3: Người hỏi sẽ hỏi bạn các câu hỏi về chủ đề liên quan tới hiện tượng và sự việc mà bạn đã trình bày ở trên. Các câu hỏi ở phần này thường là các loại sau: 1. Discuss (bàn luận) 2. Compare (so sánh) 3. Speculate (dự đoán) 4. Analyse (phân tích) 5. Explain (giải thích) 6. Evaluate (ý kiến)

IELTS Speaking (New Oriental 2007) by Mat Clark (PDF CD)

http://www.thuvienso.info Hệ thống kiểm tra tiếng Anh quốc tế (tiếng Anh: International English Language Testing System, viết tắt là IELTS) là một bài kiểm tra về sự thành thạo Anh ngữ. Nó được đồng điều hành bởi ba tổ chức ESOL của Đại học Cambridge (University of Cambridge ESOL), Hội đồng Anh (British Council) và tổ chức giáo dục IDP của Úc và được triển khai từ năm 1989. Người thi có thể lựa chọn giữa hai hình thức: Academic (học thuật) hoặc General training module (đào tạo chung):
* Loại hình học thuật dành cho những ai muốn học ở bậc đại học hoặc các học viện, các hình thức đào tạo sau đại học.
* Loại hình đào tạo chung dành cho những ai muốn tham gia những khóa học nghề, muốn tìm việc làm, hoặc vì mục đích di cư.
IELTS được chấp nhận bởi phần lớn các học viện ở Australia, Anh, Canada, Ireland, New Zealand và Nam Phi, ngày càng nhiều các học viện ở Mĩ, và nhiều tổ chức nghề nghiệp. Nó cũng là một yêu cầu bắt buộc đối với việc di cư đến Australia và Canada. Kết quả của kì kiểm tra IELTS (TRF-Test Report Form) sẽ có hiệu lực trong vòng 2 năm. Trong năm 2007, đã có hơn một triệu thí sinh tham dự kì kiểm tra IELTS. Và IELTS đã trở thành hệ thống kiểm tra ngôn ngữ tiếng Anh dành cho bậc sau đại học và người di cư phổ biến nhất trên thế giới.
Tất cả các thí sinh phải hoàn thành bốn phần của bài thi: Nghe, Đọc, Viết, Nói. Các thí sinh sẽ thi chung phần Nghe và Nói trong khi phần thi Viết và Đọc sẽ khác biệt tuỳ theo việc thí sinh đó đăng kí hình thức thi Học thuật hay Đào tạo chung.
1. Nghe: là bài thi gồm khoảng 40 câu diễn ra từ 20-30 phút, trong bài thi nghe có 4 phần (số câu hỏi không được chia đều), nghe 1 lần và các đoạn nghỉ được ghi kèm trong băng hoặc đĩa. Cuối bài thi các thí sinh sẽ có 10 phút để ghi lại kết quả vào Answer Sheet (Phiếu trả lời câu hỏi) Phần 1: là các tình huống đời thường (đăng ký hoạt động, thuê nhà, nhập học) thường là 1 cuộc nói chuyện nhưng là hỏi đáp, và người đáp thường nói nhiều hơn. Phần 2: là các tình huống hướng dẫn và giới thiệu về 1 chủ đề quen thuộc (trường học, khu du lịch, chương trình ca nhạc, triển lãm,..) thường chỉ nói bởi 1 người. Phần 3: là các tình huống đối thoại giữa ít nhất là 2 người, đây là các cuộc thảo luận có tính chất học thuật hơn (Ví dụ: chọn chủ đề khóa luận, đề tài nghiên cứu khoa học) Phần 4: là 1 bài thuyết trình về 1 chủ đề học thuật, thường do 1 người nói và dùng nhiều từ ngữ mang tính chất học thuật.
2. Đọc: là bài thi gồm khoảng 40 câu hỏi trong chính xác 60 phút (không có thời gian giành cho ghi lại câu trả lời cuối bài thi), được chia làm 3 phần, mỗi phần là 1 bài đọc khoảng 1500 từ với câu hỏi được chia tương đối đều. Khác với bài nghe, bài đọc không có độ khó tăng dần mà hoàn toàn là ngẫu nhiên.
3. Viết: là 1 bài thi gồm 2 bài tập trong thời gian chính xác là 60 phút (thí sinh phải tự phân phối thời gian), gồm 1 bài về mô tả 1 biểu đồ, 1 quá trình, 1 hiện tượng được biểu diễn dưới dạng hình vẽ; 1 bài là bài luận về 1 chủ đề đưa ra.
4. Nói: Là 1 bài nói trong thời gian khoảng 12-15 phút, gồm 3 phần: Phần 1: Trả lời các câu hỏi về các chủ đề chung chung như quê hương, gia đình, sở thích, ... Phần 2: Người hỏi sẽ đưa cho bạn 1 yêu cầu về mô tả 1 sự việc hiện tượng có liên quan đến bạn, trong yêu cầu sẽ có 4 gợi ý để thí sinh có thể dễ dàng phát triển ý. Thí sinh có 1 phút để suy nghĩ và nhiều nhất là 2 phút để trả lời. Kết thúc phần trả lời, người hỏi có thể sẽ hỏi thêm 1 đến 2 câu hỏi. Phần 3: Người hỏi sẽ hỏi bạn các câu hỏi về chủ đề liên quan tới hiện tượng và sự việc mà bạn đã trình bày ở trên. Các câu hỏi ở phần này thường là các loại sau: 1. Discuss (bàn luận) 2. Compare (so sánh) 3. Speculate (dự đoán) 4. Analyse (phân tích) 5. Explain (giải thích) 6. Evaluate (ý kiến)